Kiến thức cơ bản về bệnh viêm gan B

benh viem gan b

Theo thống kê của WHO, 3/4 dân số thế giới đang sống trong những vùng lưu hành cao bệnh viêm gan B, trong đó có Việt Nam. Tỷ lệ hiện mắc bệnh viêm gan B ở nước ta rất cao, ước tính khoảng 8,6 triệu người đang nhiễm, ước tính khoảng 8,8% ở nữ và 12,3% ở nam giới.

Viêm gan B là một bệnh nhiễm trùng do virus tấn công vào bộ phận gan, có thể gây viêm gan cấp tính và mãn tính. Đây là một loại bệnh nguy hiểm, xếp thứ 9 trong các nguyên nhân gây tử vong, song có thể phòng ngừa hiệu quả nhờ tiêm ngừa. Bệnh lây truyền qua quá trình tiếp xúc với máu hoặc các chất dịch khác của cơ thể người bị nhiễm bệnh. Theo khuyến cáo của Bộ y tế, người trưởng thành hay trẻ lớn chưa được tiêm văcxin từ chương trình tiêm chủng mở rộng của Bộ Y Tế và chưa có kháng thể với viêm gan siêu vi B cũng nên tiêm ngừa trong thời gian sớm nhất có thể. Đặc biệt ở nhóm dân số nguy cơ cao lây nhiễm viêm gan B như người thường tiếp xúc với máu và sinh phẩm (bác sĩ, điều dưỡng), chung sống cùng người bệnh viêm gan B, người có nhiều bạn tình, quan hệ đồng giới nam, người tiêm chích ma tuý, người đang nhiễm HIV…

Triệu chứng lâm sàng thường thấy của bệnh viêm gan virus bao gồm sốt nhẹ, mệt mỏi, chán ăn, da và củng mạc mắt ngả màu vàng. Với các trường hợp nhiễm virus mạn tính, các triệu chứng thường không quá điển hình. Rất nhiều bệnh nhân không có biểu hiện lâm sàng và phát hiện ra bệnh khi đã ở giai đoạn muộn, nguy hiểm đến tính mạng như xơ gan nặng và ung thư tế bào gan. Chính vi thế việc nhận biết các dấu hiệu của viêm gan B cũng như việc khám bệnh định kì là hết sức quan trọng.

Hiện nay có 5 loại virus viêm gan thì viêm gan A và E lây theo đường tiêu hóa; viêm gan B, C và D lây theo đường máu, từ mẹ truyền sang con và qua quan hệ tình dục.

Biện pháp phòng bệnh tốt nhất với virus viêm gan B là tiêm phòng văcxin cho trẻ theo chương trình Tiêm chủng mở rộng và cho tất cả mọi người chưa bị nhiễm virus viêm gan B. Cùng đó cần thực hiện các biện pháp phòng bệnh chung như sàng lọc máu, các chế phẩm của máu, sử dụng bơm kim tiêm một lần, quan hệ tình dục an toàn…

Đối với phụ nữ nhiễm virus viêm gan B khi đang mang thai, người mẹ cần được làm xét nghiệm đánh giá tình trạng nhiễm virus viêm gan B để có biện pháp dự phòng lây truyền từ mẹ sang con. Mẹ có thể uống thuốc kháng virus trong 3 tháng cuối thai kỳ khi tải lượng virus của mẹ cao và tiêm kháng huyết thanh cùng văcxin phòng bệnh cho trẻ ngay sau khi sinh.