Thuốc điều trị đột quỵ não

thuoc dieu tri dot quy nao

Cùng tìm hiểu các loại thuốc điều trị đột quỵ não với bài viết dưới đây. Lưu ý bài viết chỉ mang tính chất cung cấp kiến thức cho bạn đọc. Tuyệt đối không tự ý sử dụng các loại thuốc điều trị đột quỵ não khi chưa có bất cứ chỉ định nào tự bác sĩ.

Hiện nay, với sự tiên tiến của khoa học, các phương tiện hồi sức tích cực, các loại thuốc mới được nghiên cứu và đưa vào sử dụng nên việc điều trị bệnh đột quỵ não cũng đạt được nhiều thành tựu nhất định… Mặt khác, nhờ hiểu biết hơn về cơ chế sinh bệnh nên đã có các biện nhằm pháp dự phòng yếu tố nguy cơ trong cộng đồng.

Sử dụng thuốc Tây y:

Các loại thuốc chống đông và loại thuốc chống kết tập tiểu cầu do ức chế sự tổng hợp thromboxan A2 của tiểu cầu (chất làm dính các tiểu cầu với nhau và với thành mạch), đồng thời sẽ giúp ổn định màng tế bào làm ADP không giải phóng ra được khỏi ngoài màng tế bào để tham gia vào quá trình kết dính tiểu cầu nên đã được dùng phổ biến trong thời kỳ cấp nhằm ngăn chặn huyết khối tiến triển và tái phát. Chúng có lợi ích dự phòng trong khoảng thời gian lâu dài cho nhiều nguyên nhân cũng như các yếu tố gây ra đột quỵ bao gồm rung nhĩ, tình trạng tăng đông… Tuy vậy, các thuốc này lại không có tác dụng đáng kể làm tiêu cục máu đông và không thể tái lập nhanh chóng tưới máu não trong giai đoạn cấp. Các thuốc chống kết tập tiểu cầu chủ yếu bao gồm các loại sau đây:

Aspirin: với các bệnh nhân đã có tiền sử gia đình có nguy cơ mạch máu cao (tiền sử đột quỵ, nhồi máu cơ tim, bệnh động mạch ngoại vi, đái tháo đường), dùng aspirin có thể giảm được nguy cơ xảy ra đột quỵ não và tim xấp xỉ 19%. Với các bệnh nhân đã từng có cơn thiếu máu não thoảng qua hoặc đột quỵ thiếu máu não trước đó, dùng aspirin giảm được  khoảng 19-23% đột quỵ tái phát trong vòng 3 năm (placebo là 13%). Tác dụng không mong muốn chủ yếu của aspirin là gây ra biến chứng chảy máu ở đường tiêu hóa (0,5%/năm).

Dypiridamol: Có tác dụng giảm nguy cơ đột quỵ ở các bệnh nhân đã có tiền sử gia đình có nguy cơ mạch máu khoảng 10% và ở các bệnh nhân có cơn thiếu máu não thoảng qua hoặc đột quỵ trước đó khoảng 13%. Dypiridamol không gây ra các biến chứng chảy máu tiêu hóa như aspirin nhưng có thể gây đau đầu (xấp xỉ 8%), trong một số trường hợp, người bệnh không được tiếp tục điều trị bằng thuốc này.

Aggrenox: Là thuốc kết hợp giữa aspirin + dypiridamol nhằm làm giảm tác dụng không mong muốn của aspirin và tăng hiệu quả điều trị dự phòng gấp 2 lần khi dùng aspirin đơn độc (xấp xỉ 37%). Nghiên cứu dự phòng đột quỵ não châu Âu (ESPS-2) cho rằng phác đồ điều trị kết hợp giữa aspirin và dypiridamol là sự lựa chọn dược lý hứa hẹn để giảm nguy cơ tái phát đột quỵ mang lại hiệu quả cao.

Clopidogrel: Clopidogrel có tác dụng làm giảm nguy cơ tái phát đột quỵ ở các bệnh nhân đã có tiền sử có cơn thiếu máu não thoảng qua hoặc đột quỵ thiếu máu não cục bộ trước đây đạt khoảng 30% và ít để lại biến chứng chảy máu tiêu hóa so với aspirin.

Be the first to comment

Leave a Reply

Your email address will not be published.


*